
Mạc Trừng Thu ngủ một giấc dài đến tận ba giờ chiều, lúc này mới hoàn toàn tỉnh táo. Cậu thu dọn bát đĩa trên bàn trà, gọi nhân viên dịch vụ mang đi, rồi lại sắp xếp lại phòng một lượt. Thấy ngoài cửa sổ nắng vàng rực rỡ, cậu bèn ra ban công hóng gió.
Ban công hướng thẳng ra dãy núi tuyết; nhìn bao nhiêu lần cũng chẳng chán. Mạc Trừng Thu chợt hồi tỉnh, phát hiện bên cạnh ban công có người— là Nhậm Trì Vũ.
Sáng nay, sau khi giặt xong quần áo, Nhậm Trì Vũ cũng không còn buồn ngủ nữa, liền ra ban công hóng gió và làm việc.
Khi Mạc Trừng Thu bước ra, anh vừa cúp máy một cuộc gọi; cậu đứng lặng lẽ bên cạnh, nhìn anh ngẩn ngơ trước dãy núi tuyết suốt năm phút, rồi mới quay sang thấy mình.
“Buổi chiều vui vẻ” Mạc Trừng Thu chậm rãi chào.
“Đã tỉnh rồi à?” Nhậm Trì Vũ hỏi.
Mạc Trừng Thu gật đầu, đáp: “Tỉnh rồi.”
Nhậm Trì Vũ nói: “Lại đây ăn dưa hấu đi.”
Mạc Trừng Thu chợt nhớ ra, chiều hôm qua Nhậm Trì Vũ hình như đã đi mua dưa hấu, tiếc là sau đó xảy ra chuyện, nên chẳng kịp thưởng thức miếng dưa tươi ngon.
Năm phút sau, hai người cùng ngồi trên ban công phòng của Nhậm Trì Vũ, mỗi người cầm nửa quả dưa, dùng thìa múc từng miếng mà ăn.
“À, đúng rồi, Nhậm Trì Vũ nói, “Trưởng thôn ở thôn Thượng Vũ Băng mời chúng ta đi ăn tối, đi không?”
“Hả?” Mạc Trừng Thu thoáng chốc chưa kịp phản ứng, bèn hỏi: “Ai cơ ạ?”
Nhậm Trì Vũ giải thích: “Tối qua, chiếc máy AED do thôn Thượng Vũ Băng gửi tới. Thấy cậu cấp cứu bệnh nhân, trưởng thôn ấy vô cùng cảm kích, muốn mời cậu một bữa, tôi cũng được hưởng ké luôn.”
“Ồ?” Tối qua Mạc Trừng Thu chỉ lo đếm số, cứ đến ba mươi lại đếm ngược, nào có để ý đến người khác hay chuyện gì; nghe Nhậm Trì Vũ nói, cậu mới nhớ ra ca cấp cứu đêm qua không chỉ có mình cậu nỗ lực; nếu không phải nhờ trưởng thôn và bên khách sạn khu cắm trại kịp thời mang máy AED đến, e rằng người bệnh ấy đã khó lòng cứu vãn.
Nhậm Trì Vũ hỏi: “Đi chứ? Nếu không muốn đi thì tôi sẽ từ chối, chúng ta sang quán ăn Tứ Xuyên, ăn một bữa cho ngon.”
Nghĩ đến chuyện tối qua, trong lòng Mạc Trừng Thu thoáng chút lo lắng; nhưng suốt mấy ngày đi chơi nay cũng không có chuyện gì khác đáng ngại xảy ra cả, dường như vận may vẫn đang phù hộ, thế là cậu thư giãn hẳn, gật đầu đáp: “Đi ạ. Đừng phụ lòng thiện chí của trưởng thôn.”
Nhắc đến chuyện tối qua, Nhậm Trì Vũ không khỏi liếc sang một cái.
Hóa ra Trần Thu là bác sĩ.
Không phải ngôi sao mạng, cũng chẳng phải dân lao động cật lực nơi công sở, mà là một bác sĩ chữa bệnh cứu người.
Thật ra khi tiếp xúc với người khác, tốt nhất đừng vì nghề nghiệp mà đặt lên họ một lớp kính lọc. Bởi không thiếu những người làm nghề cao quý, nhưng tư đức bại hoại, phẩm hạnh thấp kém; thậm chí lợi dụng sự ngưỡng mộ của người khác hòng lừa đảo, trục lợi cá nhân.
Nhưng sau chuyện tối qua, Nhậm Trì Vũ khó lòng không nhìn cậu bằng con mắt có bộ lọc.
Bình thường thì hay đeo khẩu trang, lạnh lùng, lại hơi ngại giao tiếp. Đi bộ đường dài thì thiếu kinh nghiệm, ngơ ngác, cần được chăm sóc đặc biệt. Uống sữa chua cũng phải có người khác bưng trên tay đút cho, yếu ớt biết bao nhiêu. Đêm ngủ mơ thấy ác mộng còn phải ôm cậu mà dỗ dành, thật là nhõng nhẽo. Thế mà khi đối mặt với sinh tử, cậu lại lạnh lùng chuyên nghiệp đến thế, thủ đoạn cứng rắn, lấy thân xác phàm tục mà chống chọi với thần chết.
“Anh sao vậy?” Mạc Trừng Thu cảm nhận được ánh nhìn đăm đăm của Nhậm Trì Vũ, thấy kỳ lạ, liền đặt thìa xuống rồi sờ lên mặt, tưởng rằng trên mặt mình dính nước dưa hấu.
“Bác sĩ Trần.” Nhậm Trì Vũ bỗng gọi cậu.
Mạc Trừng Thu nuốt nước bọt, cổ họng khẽ chuyển động, động tác cứng đờ, từ từ buông tay xuống ôm lấy quả dưa hấu, nói: “Tôi không phải đâu, anh đừng có gọi lung tung.”
Nhậm Trì Vũ hỏi ngược: “Cậu không phải sao?”
Mạc Trừng Thu cúi mắt, ấp úng “ừm” một tiếng, thầm nghĩ, mình lại không mang họ Trần, đúng là không phải bác sĩ Trần.
Nhậm Trì Vũ thấy cậu không muốn nói thêm, bèn thôi không truy hỏi nữa, lại khen ngợi: “Cuộc cấp cứu tối qua của cậu, trình độ chuyên môn chẳng kém gì bác sĩ.”
Mạc Trừng Thu đáp cho qua: “Chỉ là may mắn thôi. Chẳng phải anh từng nói sao? Ngay lần đầu tiên đặt chân tới Đức Khâm, nhìn thấy mười ba đỉnh núi Mai Lý, cả năm sẽ gặp may. Người đó sống sót trở về biết đâu cũng là nhờ thần núi phù hộ đấy.”
Nhậm Trì Vũ nghe cậu nói vu vơ, lại thấy thú vị, bèn tiếp lời: “Trong thôn Vũ Băng đến giờ vẫn chưa có bệnh viện, thậm chí còn không có trạm y tế. Xưa kia, nếu dân làng mắc bệnh nhẹ, chỉ uống vài loại thảo dược rồi tự chịu đựng. Nếu bệnh nặng thì phải lặn lội ra ngoài thôn, sang thị trấn Đức Khâm để khám chữa. Nếu thuốc men cũng vô phương thì mời các vị “Phật sống”đến làm lễ, trừ tà.”
Nhậm Trì Vũ dừng lại ở đó, Mạc Trừng Thu không nhịn được mà hỏi: “Trừ tà? Rồi sao nữa?”
Nhậm Trì Vũ tiếp: “Thỉnh thoảng có người hồi phục ngay tại chỗ, được xem như phép màu. Nhưng phần lớn vẫn chết thôi.”
“Làm sao có thể?” Mạc Trừng Thu trầm ngâm, nói: “Trên phương diện y học đã bị tuyên án tử hình, vậy mà lại được chữa khỏi nhờ những phương pháp tôn giáo… Nhiều khả năng là do bác sĩ chẩn đoán sai.”
Nhậm Trì Vũ bật cười, nói: “Xem này, cậu vốn không tin mê tín, vừa nãy còn bảo thần núi phù hộ cơ à.”
Mạc Trừng Thu ngẩn người một lúc, không ngờ lại bị người ta bắt được lỗi, bèn vắt óc nghĩ cách xoay chuyển câu chuyện, nói: “Nói như vậy thì cũng không đúng; tin hay không tin đều không phải tuyệt đối đến thế. Một mặt là suy đoán dựa trên khoa học, mặt khác là kỳ vọng sự che chở của thần linh về phương diện tinh thần— hai điều này đâu có mâu thuẫn nhau?”
Nhậm Trì Vũ cố tình nói: “Lập luận chặt chẽ quá, quả nhiên là người học y.”
Mạc Trừng Thu giữ nguyên nét mặt lạnh lùng, đáp: “Tùy anh nghĩ sao thì nghĩ. Tôi chẳng cãi lại được anh.”
Thấy cậu ấy mím chặt môi, thậm chí còn bỏ cả miếng dưa hấu, tỏ vẻ không định mở miệng nữa, trông như thật sự giận rồi, Nhậm Trì Vũ bèn thản nhiên đổi đề tài, kể một câu chuyện địa phương. Tương truyền, mỗi năm đều có một người lạ mặt không rõ nguồn gốc mang theo một chiếc túi vải, tới thôn Tây Đương xin mượn lương thực. Dân trong thôn hỏi anh ta quê ở đâu, nhưng anh ta nhất quyết không nói, thật kỳ lạ.
Có một ông lão nghĩ ra một cách: khi cho mượn lương thực, ông lén đâm một lỗ nhỏ vào túi vải của người ấy. Người kia vô tư vác lương thực trở về, hạt gạo rớt vương vãi dọc đường; ông lão lần theo dấu gạo, âm thầm bám theo, rồi đến trước một tảng đá trên núi, nơi mà số gạo rơi vãi đã biến mất. Ông lật tảng đá lên, trước mắt hiện ra một ngôi làng — chính là làng Vũ Băng.
Mạc Trừng Thu gật đầu, miễn cưỡng tán thưởng: “Câu chuyện hay đấy.”
Vẫn chưa kể hết, Nhậm Trì Vũ tiếp tục: “Ngày xưa, Vũ Băng vốn ẩn mình trong những tảng đá; người dân bản địa gọi ngôi làng vô hình ấy là Nhật Cách. Theo quan niệm của người Tạng, dãy núi tuyết vốn ẩn giấu ngôi làng, chỉ có vài người may mắn mới tình cờ bước vào; khi ra khỏi đó, họ sẽ không bao giờ tìm được đường trở về nữa. Cuốn ‘Đường chân trời đã mất’ gọi thế giới ẩn giấu ấy là Shangri-La, còn trong thần thoại Tạng thì nó được gọi là Shambhala – vùng đất huyền bí.
Mạc Trừng Thu định thần lại, nói: “Dãy núi tuyết chính là Shambhala, Vũ Băng là một phần của dãy núi ấy; vì đã bị phát hiện ra nên không còn được coi là Shambhala nữa, mà được gọi là Nhật Cách.”
Nhậm Trì Vũ tiếp tục: “Vào cuối thế kỷ trước, thôn Tây Đương bỗng xuất hiện năm sáu người đàn ông lạ, đòi gọi điện về huyện. Thời ấy, điện thoại vẫn còn là loại máy quay số tay cổ điển; họ quay mãi mà chẳng kết nối được, bèn ùa nhau chạy thẳng lên huyện. Trang phục và cử chỉ của họ hoàn toàn khác biệt so với dân các thôn xung quanh; theo trưởng thôn Tây Đương, họ đến từ Vũ Băng. Có người trong làng Vũ Băng cắt túi mật ở huyện, tưởng rằng mình sắp chết, cần truyền máu, nhưng mua máu thì tốn mấy nghìn tệ; thế là tất cả đàn ông khỏe mạnh trong làng đều đi ra hiến máu. Họ dậy từ sớm vượt núi tới Tây Đương, rồi lại trèo đèo lên chùa Phi Lai, sau đó mới xuống huyện. Người dân Tây Đương cảm thấy những người ở Nhật Cách quả thật khác hẳn so với người bên ngoài.”
Mọi chúng sinh đều khổ. Nghe xong đoạn ấy, Mạc Trừng Thu chẳng mấy xúc động, thản nhiên nói: “Xem như là “Đào hoa nguyên ký” của người Tạng.”
“Ừ, cũng đúng mà lại cũng không,” Nhậm Trì Vũ đáp, “Nói một cách ví von, nếu cậu cùng con trai của Ba Tang vào núi, cậu ấy có thể tìm thấy đủ loại nấm, còn cậu thì không; vậy thì cái mà cậu ấy có thể nhìn thấy, chẳng phải nhiều hơn cậu sao?”
Mạc Trừng Thu ngơ ngác, nhưng đành thừa nhận: “Đúng là như vậy.”
Nhậm Trì Vũ tiếp lời: “Người có đức tin vào núi, có thể thấy những phép màu mà chúng ta không thấy; người chăn nuôi vào núi, thấy cỏ tươi tốt mà chúng ta không thấy; người dẫn đường giàu kinh nghiệm vào núi, đọc được biến hóa của mây gió, dấu chân thú rừng quanh đó, còn chúng ta thì không. Những thứ không nhìn thấy ấy, đối với chúng ta, chẳng phải đã trở nên vô hình, há chẳng phải chính là Shambhala sao?”
Lần đầu tiên nghe cách lý giải này, Mạc Trừng Thu nói: “Cũng có lý đấy. Vậy thì, dù ngành du lịch phát triển, dãy núi tuyết được khai thác thành điểm tham quan, chẳng còn bí ẩn nữa, nhưng Shambhala vẫn sẽ mãi mãi tồn tại?”
Nhậm Trì Vũ vốn cũng chưa nghĩ đến đó, hơi lúng túng, bèn hỏi ngược lại: “Cậu nghĩ sao?”
Mạc Trừng Thu theo ý anh, nói: “Nếu những người hành hương mất đi đức tin, nếu đồng cỏ bị tàn phá, chim muông trong núi cũng bị quấy nhiễu, tất cả đều biến mất, thì Shambhala cũng chẳng còn nữa.”
Càng nói, cậu càng bi quan, ánh mắt dần tối lại; Nhậm Trì Vũ bảo: “Thực ra cũng không đến mức nghiêm trọng như vậy đâu. Tôi chỉ muốn nói rằng, là con người, chúng ta khó tránh khỏi những hạn chế của kinh nghiệm và tầm nhìn; giữa một thế giới rộng lớn, cứ cố gắng hết sức để nhìn, để trải nghiệm thôi.”
Mạc Trừng Thu cúi đầu, im lặng, lại mang dáng vẻ có chuyện bận tâm, chậm rãi dùng thìa múc từng miếng dưa hấu. Ông chủ Nhậm đã lăn lộn nơi thương trường bao năm, khả năng quan sát biểu cảm, đoán ý người khác đã đạt đến cảnh giới tinh tường; vậy mà lúc này, anh vẫn không chắc mình có vừa nói sai điều gì, làm cậu ấy phật lòng hay không.
Đúng là khó chiều mà.
Nhậm Trì Vũ không tự dằn vặt, cũng không tiếp tục nịnh nọt nữa; anh đứng dậy trở về phòng vứt vỏ dưa hấu trong tay, rửa sạch thìa, rồi lấy thêm chút phô mai, bánh quy giòn, thịt khô ra, coi như bữa trà chiều.
Nửa quả dưa hấu của Mạc Trừng Thu cũng gần hết; cậu đặt sang một bên, dùng khăn giấy ướt lau tay.
Nhậm Trì Vũ thấy vậy tiện tay thu dọn luôn cả phần dưa ấy; Mạc Trừng Thu ngẩng đầu nhìn anh một cái, mỉm cười, nói: “Cảm ơn anh nhé.”
Trong lòng Mạc Trừng Thu thầm nghĩ: bản thân cậu đang nhìn, cũng đang trải nghiệm.
*”Đường chân trời đã mất” (Lost Horizon) là một tiểu thuyết phiêu lưu của nhà văn James Hilton, xuất bản năm 1933. Cuốn sách nổi tiếng nhờ hình ảnh của Shangri-La, một thung lũng huyền thoại trong dãy Himalaya, được xem là thiên đường trên trái đất. (nguồn: danghoangdoanh.blogpost.com)
**Đào Hoa Nguyên Ký: là một bài tiểu luận về tự sự do của Đào Uyên Minh, một nhà văn thuộc triều Đông Tấn, mô tả một ngư dân từ huyện Vũ Lĩnh tình cờ phát hiện một khu rừng hoa đào khi đánh cá và phát hiện một ngôi làng hẻo lánh trong chuyến thám hiểm – Suối Hoa Đào. Người dân làng sống cuộc sống yên bình và hạnh phúc, hoàn toàn không biết đến những thay đổi và chiến tranh bên ngoài thế giới. Thông qua mô tả về Suối Hoa Đào, bài viết thể hiện khát vọng của tác giả về một xã hội lý tưởng, đồng thời ngầm chỉ trích thế giới thực. (Nguồn: afterschool.com.hk)
***Câu chuyện trong chương trích dẫn từ sách “Tuyết Sơn Chi Thương” của Quách Tịnh.
Để lại bình luận cho tui vui ik ₍₍⚞(⸝⸝>⸝⸝<⸝⸝)⚟⁾⁾